Khi các nhà thơ tiên đoán
Thứ hai, 21 Tháng 5 2012
Vietnamese-VNEnglish (United Kingdom)

Khi các nhà thơ tiên đoán

Email In PDF.

Các nhà thơ đâu phải là những người chỉ biết mơ mộng trời biển, mây gió, trăng sao. Họ cũng bình thường và thực tế như chúng ta, chỉ khác ở chỗ thiên về đời sống nội tâm. Với năng khiếu bẩm sinh và tài sáng tạo riêng, họ bày tỏ chính kiến, tâm tư trước nhân tình thế thái bằng tiếng nói của trái tim và những con chữ tinh tế rung động lòng người.

Nhân Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, chúng ta cùng nhau trải nghiệm những lời tiên đoán trước đây của các nhà thơ từng sống trên đất Hà thành cùng với những gì đang diễn ra…

 

 

1. Bốn câu thơ: Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư/ Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/ Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư", được xem là một bản "Tuyên ngôn độc lập - Thơ" của Lý Thường Kiệt. Nó như một sấm tuyên đến nhân loại khắp năm châu bốn biển rằng: Sông núi nước Nam, vua Nam ở. Đã phân định rõ tại sách trời. Kẻ nào dám ngỗ ngược đến xâm phạm. Tất sẽ dẫn đến thất bại.

 

Bốn câu "Thơ - Tuyên ngôn độc lập" này khẳng định rõ ràng về lãnh thổ, chủ quyền và ý chí sắt đá bảo vệ Tổ quốc không gì có thể khuất phục được của nhân dân Việt Nam. Nó không chỉ tiên đoán mà tiên định mạnh mẽ kẻ thù nào xâm lược Việt Nam nhất định sẽ thất bại.

 

Chính vì không am hiểu sức mạnh vô địch của tinh thần tự tôn dân tộc của người Việt Nam nên các triều đại phong kiến phương Bắc như thời Đông Hán, Tùy, Đường, Tống, Minh, Thanh, rồi quân phiệt Nhật, thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đều nối nhau thất bại khi xâm lược Việt Nam.

 

Song, có một điều khác của Lý Thường Kiệt mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng và đáng nói hơn nhiều với người đương thời chúng ta. Đó là khi được cấp báo quân Tống tập trung lực lượng chuẩn bị tấn công xâm lược nước ta, lão tướng Lý Thường Kiệt đã chủ động sáng suốt xuất quân đánh trước, đập tan mưu đồ của địch ngay từ trong trứng nước, bảo vệ Tổ quốc thoát khỏi họa ngoại xâm.

 

Bài học lịch sử của Lý Thường Kiệt nhắc nhở chúng ta phải thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu trước âm mưu, thủ đoạn diễn biến hòa bình thâm độc của các thế lực thù địch, các hoạt động phá hoại của bọn gián điệp, bọn phản động trong nước và nước ngoài, quyết không để cho đất nước bị bất ngờ và nhân dân bị thiệt hại.

 

2. Đại thi hào Nguyễn Du, sinh năm 1765, ra đời và lớn lên trong bối cảnh chính trị, xã hội đất nước vô cùng phức tạp, rối ren: Trịnh - Nguyễn phân tranh, xu thế phò Lê diệt Trịnh; đặc biệt đã nổ ra cuộc khởi nghĩa của nông dân Tây Sơn (1771 - 1775) và phong trào Tây Sơn phát triển lớn mạnh nhanh chóng, lan rộng ra cả nước, được nhân dân nhiệt liệt ủng hộ.

Năm 1789, Nguyễn Huệ tiến quân giải phóng thành Thăng Long. Ông lên ngôi Hoàng đế được 3 năm và đột ngột băng hà năm 1792. Từ sau đó, nội bộ gia tộc Nguyễn Huệ rạn nứt, phong trào Tây Sơn suy vong. Sự nghiệp của Nguyễn Huệ vô cùng vĩ đại nhưng các thế lực thù nghịch luôn xuyên tạc phong trào Tây Sơn, gọi quân Tây Sơn là "giặc cỏ", "giặc cờ đen".

Thời gian này, mặc dù thi cử đỗ đạt cao, đã ngoài 30 tuổi, nhưng có lẽ do chưa nhận diện và minh định được tình hình, cụ Nguyễn Du đã ở ẩn nơi quê nhà và nhiều nơi trên đất Bắc Hà. Nhưng, cũng chính nhờ ở ẩn nhiều nơi mà cụ mới thấy hết nỗi thống khổ, cơ hàn đến cùng cực của nhân dân. Năm 1802, dựa vào thế lực ngoại bang, từ nơi chạy trốn ở đảo Phú Quốc, Nguyễn Ánh trở về đánh chiếm lại thành Phú Xuân (cố đô Huế), lên ngôi vua và lập nên triều đại Nguyễn.

 

Cụ Nguyễn Du ra làm quan, làm quan với thiện chí thành tâm mong góp phần cứu dân, cứu nước. Cụ từng được cử đi sứ. Nhưng chính cái chốn quan trường ở trong nước hay nước ngoài đều cho cụ thấy cảnh tượng cực kỳ thối nát, xấu xa của vua quan mê đắm quyền lực, ăn chơi xa xỉ, thác loạn trên mồ hôi, nước mắt, xương máu của dân lành, hại nước hại dân.

 

Cụ gửi tất cả nỗi niềm của mình vào kiệt tác "Truyện Kiều", mà nội dung cốt lõi của nó tựu trung: "Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau", "Chữ tài liền với chữ tai một vần", “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài".

 

Cụ mất năm 1820, thọ 55 tuổi, cuộc đời của một thiên tài quá ngắn ngủi. Nhưng lời tiên đoán tiên định của cụ "Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài", sẽ mãi trường tồn cùng nhân loại. Giờ đây, lời tiên đoán và dặn lại của tiên sinh Nguyễn Du có giá trị lớn lao biết nhường nào khi mà mặt trái của nền kinh tế thị trường đã kích thích sự trỗi dậy mãnh liệt của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, tham lam tư lợi; lòng ham muốn vô độ làm giàu bất chính; khuynh hướng mê đắm hưởng thụ dục vọng vật chất thấp hèn; khiến một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thoái hóa phẩm chất, đạo đức, làm xói mòn lòng tin của nhân dân, dẫn đến nguy cơ mất còn của Đảng và chế độ ta.

 

3. Tầm đầu thế kỷ XX, nhà thơ trào phúng Tú Xương viết: "Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau/ Sinh năm đẻ bảy được vuông tròn/ Phố phường chật hẹp, người đông đúc/ Bồng bế nhau lên nó ở non/…

 

Và năm 1936, nhà thơ Nguyễn Bính, người được mệnh danh là thi sĩ "Nhà quê" đã lo lắng dự cảm: "… Hoa chanh nở giữa vườn chanh/ Thầy u mình với chúng mình chân quê/ Hôm qua em đi tỉnh về/ Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều

 

Đã hơn 70 năm trôi qua, chỉ đơn cử và nhìn vào tình hình Hà Nội hiện nay, ta thấy hai bác Tú Xương, Nguyễn Bính cũng thật tài tình. Các vấn nạn về sinh đẻ có kế hoạch văn hóa sính ngoại, lai căng luôn là thời sự nóng bỏng, bức xúc, làm đau đầu các nhà lãnh đạo, hoạch định chính sách quốc gia, gây lo lắng cho toàn xã hội.

 

Hà Nội hôm nay là thành phố đất rộng nhất nước ta nhưng nội thành vẫn đông đúc, chật chội, ngột ngạt nhất. Các quận nội thành Hà Nội là miền đất hứa để các "đại gia" đầu tư địa ốc, mở công ty và người nghèo tứ phương đổ về mưu sinh ngày càng nhiều, làm cho đại đa số người dân có thu nhập thấp vẫn khó khăn, bức bách nhiều bề, chất lượng sống không cao.

4.Không chỉ là một trong những nhạc sĩ tài hoa bậc nhất, Văn Cao còn là một nghệ sĩ đa tài: một họa sĩ, một nhà thơ. Có thể nói ông vẽ tranh, làm thơ trong âm nhạc và viết nhạc bằng những bức tranh giàu chất thơ.

 

Năm 1948 thì phải, trên nẻo đường kháng chiến trường kỳ gian khổ, ông tiên đoán nhất định Thủ đô sẽ được giải phóng. Ông mô tả cảnh tượng ngày ấy sẽ vô cùng huy hoàng, rực rỡ. 5 cửa ô là 5 đài hoa, hàng vạn nhân dân tưng bừng, nô nức trong muôn sắc cờ hoa, hân hoan chào đón quân ta trùng trùng như sóng tiến về Hà Nội.

 

Và ngày ấy đã trở thành hiện thực sau Chiến thắng Điện Biên Phủ. Trải qua bao sóng gió, thăng trầm, sau Đại thắng mùa xuân 1975, ông mới khai bút viết bài "Mùa xuân đầu tiên", một trong những bài hát hay nhất viết về mùa xuân của Việt Nam, rung động tận nơi sâu thẳm đáy lòng hàng triệu con người.

 

Ông tiên đoán: "Từ đây người biết quê người/ Từ đây người biết thương người/ Từ đây người biết yêu người". Quả thật, chiến tranh bao giờ cũng gắn liền với chết chóc, tàn phá. Bước vào kỷ nguyên mới của một cuộc đời thanh bình, yên ấm, dù là người ở bên này hay bên kia trận tuyến, kể cả kẻ thù của chúng ta ở bên kia Thái Bình Dương cũng đã nhận ra lỗi lầm của họ. Tất cả đều khép lại quá khứ đau thương, quên đi những mặc cảm, thù hận, cùng nhau bắt tay hàn gắn những vết thương chiến tranh, sống thuận hòa vì tình thương, tình yêu con người.

 

"Chưa có năm nào như Xuân Canh Dần 2010, nửa triệu kiều bào ta ở nước ngoài đã trở về Việt Nam ăn Tết. Trong không khí đầm ấm của cuộc hội ngộ "Dân tộc - Đất nước" đầu xuân tại Hà Nội, một nam ca sĩ hải ngoại đã hát bài "Hướng về Hà Nội" của nhạc sĩ Hoàng Dương với tất cả tình yêu sâu nặng đất mẹ thân yêu của một đứa con xa xứ. 3 tiếng "Hà Nội ơi" thiết tha, đằm thắm luôn ngân vang làm bồi hồi, rạo rực lòng người: "… Hà Nội ơi…/ Một ngày mùa chinh chiến ấy/ Chim đã mịt mờ bên trời bay/… Hà Nội ơi, những chiều sương gió dâng khơi/… Biết bao là nhớ tơi bời/… Hà Nội ơi,…. Hết rồi giây phút phân ly…/ Hà Nội ơi, dáng huyền tha thướt đê mê/… Biết đâu ngày ấy anh về/… Hà Nội ơi, …/ Một ngày tàn hương chinh chiến/… Một ngày hồng tươi hoa lá/… Tóc thề thả gió lê thê/ Hãy tin ngày ấy anh về". Bài hát có giai điệu hơi buồn, nhưng trên hết là một tình yêu da diết Hà Nội - trái tim của Tổ quốc, yêu chân thành, nồng cháy, thăm thẳm không gì sánh được.

Đất nước đang đi lên trong những ngày mới. Bắc - Nam đã sum họp một nhà, không còn ngăn cách, phân biệt đối xử trong nước, ngoài nước, "Từ đây người biết quê người/ Từ đây người biết thương người/ Từ đây người biết yêu người", mọi người Việt Nam càng biết yêu nước mình, sống bao dung, hòa hợp trong khối đại đoàn kết dân tộc, để cho đời càng tươi đẹp mãi mãi.

 

Phần kết của bài này, xin được thắp một nén hương kính viếng Bác Hồ - nhà thơ Hồ Chí Minh, một nhà tiên tri vĩ đại.

"Năm 1940, Bác tiên đoán Cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam sẽ hoàn thành vào năm 1945. Năm 1965, Bác tiên đoán đế quốc Mỹ cuối cùng sẽ đánh vào Hà Nội và sẽ xuống thang chiến tranh. Bác một lòng tin tưởng sắt đá và tiên đoán nhất định Mỹ sẽ thất bại hoàn toàn và Việt Nam sẽ độc lập, thống nhất đất nước, sống trong hòa bình, đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trước lúc đi xa, Bác kêu gọi: "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào/ Tiến lên, chiến sĩ đồng bào/ Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn". Bác còn nói rõ đến ngày thắng lợi ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng, to đẹp hơn, hơn mười ngày xưa… Tất cả những gì Bác tiên đoán đều trở thành hiện thực.

 

Hà Nội kỷ niệm Đại lễ 1000 năm Thăng Long, đang vươn mình lên tầm cao mới, mang lại niềm tin yêu cho cả nước, xứng đáng là Thủ đô anh hùng, thành phố hòa bình, trái tim hồng của Tổ quốc.

Tuy vậy, hơn bao giờ hết, chúng ta luôn ghi nhớ lời căn dặn ân tình của Bác Hồ, đại ý: Có độc lập tự do rồi, nhưng nhân dân không được ấm no, hạnh phúc thì độc lập, tự do ấy cũng vô nghĩa… Suốt đời Bác chỉ sống để mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân. Đó là mục đích cao nhất.

 

Xin mãi mãi ghi sâu và làm theo tâm nguyện của Bác.

Theo Hồ Ngọc Sơn - www.cand.com.vn