Tôi phủ nhận cảm giác bị gạt bỏ và phản bội khi trở về nhà và phải đối mặt với những lời lăng mạ và những đám đông giận dữ. Tôi nuốt vào trong nỗi giận dữ của tôi. Tôi bắt đầu kiềm chế tình cảm và rút lui khỏi các giao tiếp xã hội thông thường. Tôi bị bệnh nhưng tôi không biết.
George Kovach là một cựu binh ở Việt Nam và là một nhà thơ. Ông là một ví dụ của Hội chứng chiến tranh Việt Nam. Ông hiện điều hành những khóa học về viết văn cho những cựu binh chiến tranh tại trung tâm cựu binh Brockton Massachusetts. Ông làm việc với các cựu binh của cuộc chiến Iraq và Việt Nam cũng như các cựu binh được trung tâm y tế cựu binh điều trị vì những vấn đề rối loạn tâm lý trong các buổi học diễn ra hàng tuần, đọc và viết về trải nghiệm chiến trường. Kovach cũng là sáng lập viên của tạp chí Hậu quả, một tạp chí văn học tập trung vào văn hóa và hậu quả của cuộc chiến ở thế kỷ 21. Ông đã từng lọt vào vòng cuối của giải thưởng Grace Paely năm 2010.
Tuần Việt Nam xin giới thiệu tham luận của ông đọc trong Hội thảo Văn học Việt Nam - Hoa Kỳ sau chiến tranh diễn ra ở Hà Nội và Hòa Bình từ ngày 28/5 đến ngày 2/6/2010.
Tên tôi là George Kovach. Quả là vinh dự cho tôi khi được tham dự hội thảo giới thiệu văn học Việt Nam ở Mỹ từ năm 1975 do trường Đại học văn hóa tổ chức. Tôi rất hào hứng được đến Việt Nam. Cũng như các đồng nghiệp của tôi, tôi là một cựu binh trong cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam. Năm 1969 và 1970, tôi là lính bộ binh thuộc sư đoàn bộ binh số 25 của Mỹ, đóng ở Củ Chi.
Dù 40 năm đã trôi qua, chuyến trở lại Việt Nam lần này của tôi có ý nghĩa nhiều hơn là một chuyến đi dài 8000 cây số. Đối với tôi, đó là một chuyến đi có ý nghĩa sâu sắc. Lần này tôi đến Việt Nam để lắng nghe người Việt Nam và tìm hiểu về đất nước của các bạn. Tôi dự định mình sẽ mang về Boston nhiều hơn chỉ là những ấn tượng lâu bền. Tôi muốn trở lại với một sự kết nối thực sự với bạn, vì vậy tôi có thể giúp cho nước tôi hiểu thêm về nền văn hóa giầu có của Việt Nam và hiểu thêm về những khác biệt quan trọng giữa chúng ta.
Tôi là biên tập và là chủ của tạp chí Consequence Magazine (tạm dịch là tạp chí Hậu quả), một tạp chí văn học chuyên phản biện những giả định của chúng ta về chiến tranh. Consequence là một tạp chí độc lập, phi lợi nhuận xuất bản bài viết của các nhà văn, nghệ sĩ quốc tế về các vấn đề văn hóa và hậu quả chiến tranh. Sứ mệnh của tạp chí văn học này rất quan trọng. Tôi đã may mắn nhận được sự trợ giúp của các nhà văn, nhà thơ, trí thức quan trọng ở đất nước tôi. Những người nổi bật trong số đó là những đồng nghiệp của tôi ở đây hôm nay.
Tôi sẽ trở lại với sự mệnh văn hóa của Tạp chí Hậu quả nhưng đầu tiên tôi muốn kể với các bạn về bản thân tôi, để giải thích tại sao, ở giai đoạn cuối của cuộc đời, tôi bắt đầu viết, bắt đầu thành lập một tạp chí văn học.
Tôi đã 62 tuổi, nhưng tôi là một nhà văn khá trẻ. Trong phần lớn quãng đời trưởng thành của mình, tôi làm việc trong lĩnh vực dịch vụ tài chính ở Boston. Khi công việc này kết thúc vào 2001, tôi chuyển gia đình tới châu Âu và sống ở Budapest trong 2 năm, để bắt đầu một công vụ làm ăn mới, và một phần là để giúp các con tôi trải nghiệm với một thế giới bên ngoài khác với một nước Mỹ thực dụng và thiển cận. Khi tôi trở lại Boston năm 2003, tôi rất ốm yếu.
Tôi được Trung tâm y tế Cựu chiến binh xác định là mắc chứng rối loạn tâm lý nặng và kinh niên, có liên quan tới thời gian tôi ở trong quân ngũ. Như các bạn đã biết, rối loạn tâm lý là một chứng rối loạn nghiêm trọng ảnh hưởng tới gần 30% lính Mỹ đã từng tham chiến. Căn bệnh này khiến tôi không thể làm việc được nữa. Tôi cứ ra vào bệnh viện trong một thời gian dài. Trong thời gian này, tôi bắt đầu viết về thời gian chiến trận của tôi và những ảnh hưởng của nó đối với cuộc sống của tôi kể từ khi tôi giải ngũ năm 1971. 30 năm đã qua kể từ khi tôi trở về từ Việt Nam nhưng tôi mới chỉ bắt đầu phải đương đầu với việc chiến tranh đã ảnh hưởng tới cuộc sống của tôi như thế nào. Ông George Kovach, Ảnh nhân vật cung cấp
Cũng như những người lính khác, tôi nghĩ tôi trở về nhà sau chiến tranh và chỉ đơn giản là gác nó lại phía sau. Tôi nghĩ tôi có thể bắt đầu lại cuộc sống như bình thường: hoàn thành khóa học, tìm việc, lập gia đình, có con và đeo đuổi "Giấc mơ Mỹ" với những thành công. Nhưng Mỹ đang ở trong giai đoạn biến động xã hội và phân cực chính trị. Khi tôi trở về nhà, những niềm tin thời trẻ của tôi đã bốc hơi. Tất cả mọi hình thức quyền lực đều bị thách thức và những giá trị đạo đức từng ăn sâu vào tôi đều không còn đáng tin nữa.
Đó thực sự là một quãng thời gian tồi tệ, và dù tôi có thể thấy được những căn bệnh của nước Mỹ, tôi lại phủ nhận mọi thứ bất thường đang xảy ra với cá nhân tôi. Tôi phủ nhận cảm giác bị gạt bỏ và phản bội khi trở về nhà và phải đối mặt với những lời lăng mạ và những đám đông giận dữ. Tôi nuốt vào trong nỗi giận dữ của tôi. Tôi bắt đầu kiềm chế tình cảm và rút lui khỏi các giao tiếp xã hội thông thường. Tôi bị bệnh nhưng tôi không biết.
Càng ngày cuộc sống của tôi càng trở nên mất cân bằng khi những nỗi giận dữ có thể bùng nổ thành bạo lực, tuyệt vọng và những bất an đã ngăn cản tôi tham gia vào các hoạt động xã hội thông thường. Tôi lao vào công việc như một con nghiện bởi vì thời gian và sức lực tôi dành cho công việc có thể giúp tôi tạm quên đi những vấn đề cá nhân của mình. Khi công việc của tôi thất bại, tôi không thể kiềm giữ được nữa những suy nghĩ và tình cảm mà tôi đã kìm nén trong nhiều năm. Hội chứng rối loạn tâm lý PTSD lại xuất hiện và chấm dứt cuộc sống bình thường của tôi.
Thời điểm đó, tôi không chấp nhận rằng vấn đề sức khỏe của tôi là có liên quan với những gì diễn ra 30 năm trước, nhưng vợ tôi, người đã bên tôi và hiểu tôi trong một quãng thời gian còn dài hơn thế, kiên quyết cho rằng tôi nên đến Bệnh viện dành cho cựu chiến binh để kiểm tra.
Cơ quan cựu chiến binh Mỹ đã thiết lập một chương trình đặc biệt cho hội chứng rối loạn tâm lý và tất nhiên là để điều trị cho tôi, một số chuyên gia tư vấn đã khuyến khích tôi viết về chiến tranh như là cách để giải toả những ký ức mà tôi đã kìm nén. Khi viết về những gì tôi trải qua ở chiến trường, tôi có thể giải phóng những ký ức của mình và biểu lộ tình cảm mà tôi đã giấu kín từ sau cuộc chiến.
Tôi đã bắt đầu viết như thế. Đầu tiên, đó hoàn toàn là một phương pháp trị liệu, nhưng càng viết thì tôi càng thích thú. Vợ tôi cũng là một nhà văn và bà ấy khuyến khích tôi đăng ký tham gia vào một khóa học viết lách do Trung tâm Joiner chuyên nghiên cứu hậu quả chiến tranh và xã hội tài trợ. Tôi may mắn đã được gặp Bruce Weigl, người chủ nhiệm chương trình của tôi và với sự hướng dẫn của ông ấy, tôi bắt đầu làm thơ. Trong những khóa học tiếp theo của trung tâm Joiner, tôi lại được làm việc với nhà thơ Fred Marchant và Martha Collins, và họ tiếp tục giúp đỡ và hướng dẫn tôi.
Trung tâm Joiner có ảnh hưởng rất lớn tới cuộc đời tôi, và tôi muốn nói vài câu về những khóa học viết lách của họ. Phần lớn mọi người tham dự khóa học trong 2 tuần nhưng cũng có những chương trình chỉ diễn ra trong 1 tuần. Những người đăng ký tham dự phải nộp một bài viết mẫu để những giáo viên của trung tâm có thể xếp họ vào một khóa học phù hợp. Học phí có thể được miễn hoặc giảm cho cựu binh. Mỗi một khóa học tập trung chỉ vào một chủ đề văn học và nhận khoảng 10 người, mỗi tuần học khoảng 3 buổi.
Những khóa học có một số điểm chung nhưng cũng khác nhau tuỳ theo phong cách của mỗi thầy giáo. Nếu bạn tham gia 1 khóa học, ví dụ như tham gia một nhóm về thơ, bạn sẽ mang tới những bài thơ của bạn và phân phát cho tất cả các thành viên. Bạn sẽ đọc bài thơ của mình trước toàn nhóm và họ sẽ nói cho bạn biết họ thích điều gì và góp ý cho bạn để làm cho nó tốt hơn.
Trong bổi học đầu tiên, người thầy giáo của khóa học này sẽ làm mẫu bằng cách đưa ra những phản hồi và những phê phán mang tính xây dựng. Những phản ứng tinh tế và sâu sắc đối với mỗi tác phẩm của học viên sẽ nhanh chóng trở thành tiêu chuẩn của nhóm. Đôi khi trong lớp học cũng có những bài tập viết để khuyến khích trí tưởng tượng hoặc mở rộng nhãn quan sáng tạo. Ngoài những phản hồi từ những thành viên của lớp học, mọi người đều có thể gặp riêng người hướng dẫn của mình để có thể được tư vấn thêm.
Trong vòng 2 tuần, các thầy giáo của khoa và những người khác mời những học viên nói chuyện tại các điểm khác nhau ở khắp thành phố. Những sự kiện này được mở cho công chúng và những người tham dự khóa học. Xen giữa những khóa học đã được lên lịch, trung tâm cũng mời những vị khách đặc biệt tới giảng dạy hoặc nói về những chuyên đề đặc biệt. Có những buổi thảo luận về những chủ đề liên quan được mở cho mọi học viên cũng như những buổi học, giới thiệu bằng hình ảnh hay biểu diễn nghệ thuật.
Luôn luôn có những điều thú vị mỗi ngày. Những tình bạn gắn bó nảy sinh trong thời gian học là một phần quan trọng đối với tôi trong thời gian học ở đây. Những khóa học gắn bó chặt chẽ của trung tâm Joiner cho thấy cộng đồng văn học đã hỗ trợ các thành viên của mình nhiệt tình thế nào và tạo ra sức sáng tạo, năng lượng làm việc cho mọi thành viên của khóa học. Bởi vì chương trình này đã tồn tại hơn 20 năm, rất nhiều nhà văn đã trở thành bạn bè của nhau và họ tiếp tục gặp nhau sau khi kết thúc khóa học để thảo luận về tác phẩm của mình.
Sau mùa hè thứ hai của tôi ở trung tâm Joiner, tôi đăng ký tham dự chương trình viết văn của trường đại học do Martha Collins mở ra. Tôi đã hoàn thành bằng cao học về viết văn và mới đây là bằng cao học nữa về nghệ thuật thơ ca. Chiến tranh là một chủ đề mà tôi tiếp tục viết trong thơ ca và gần đây là tiểu thuyết và hồi ký. Tôi đang mong đợi được trở lại trung tâm Joiner mùa hè này trong 2 tuần nữa để tiếp tục tham dự các khóa học về viết văn.
Tại các buổi học ở trung tâm Joiner, tôi hiểu rõ hơn nghệ thuật và văn học có thể ảnh hưởng tới cách con người suy nghĩ và đáp lại với thế giới này như thế nào. 3 năm trước, việc tôi muốn viết về chiến tranh, và là một sinh viên của trường đại học, đã giúp tôi lập ra một loạt các chương trình dạy viết văn cho một nhóm các cựu binh. Ý tưởng cho chương trình này xuất phát từ những trài nghiệm của tôi khi học cao học ở trường đại học và khi học các khóa viết văn của trung tâm Joiner. Với sự hướng dẫn của Kevin Bowen, người vốn là tư vấn học thuật của tôi, tôi đã bắt đầu mở một chương trình viết văn cho tất cả các cựu binh đang phải điều trị tại một trong những trung tâm y tế dành cho cựu binh ở gần Boston.
Họ không cần phải là người có kinh nghiệm viết văn và trên thực tế, chỉ có một số ít người đã từng viết trước đây. Các lớp học này có khoảng từ 5-8 học viên và gặp nhau liên tục trong 10 tuần vào mùa xuân và mùa thu. Các học viên có thể chọn học về bất cứ thể loại nào và được khuyến khích viết về bất cứ chủ đề nào mà họ quan tâm. Tôi nghĩ bạn sẽ ngạc nhiên khi biết rằng tất cả họ đều từng một lần viết về những trải nghiệm chiến tranh của mình trong 10 tuần của khóa học, đối với một số người, thì đây là chủ đề duy nhất mà họ viết.
Tôi cần nhấn mạnh rằng tất cả những người tham dự khóa học của tôi tại Trung tâm Cựu chiến binh đều đang điều trị chứng rối loạn tâm lý, và đa phần họ là cựu binh trong cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam.
Những căng thẳng mà họ phải đối mặt đặt ra những thử thách đặc biệt cho lớp học viết của chúng tôi. Khi một cựu binh đọc tác phẩm của họ trong nhóm, những hình ảnh minh họa về chiến tranh có thể khiến họ nổi giận hoặc bất an. Điều này có thể trở thành vấn đề cho cả nhóm nếu nó không được giải quyết nhanh chóng. Đôi khi tôi phải thay đổi hướng của cuộc thảo loạn, hoặc thậm chí là dừng thảo luận lại nếu chủ đề gây quá nhiều rắc rối. Trong một trường hợp, một thành viên trở nên quá kích động và ông ta phải rời bỏ lớp học và không bao giờ quay lại.
Nhưng trong mọi tình huống, có một điều đáng nói diễn ra. Mỗi cựu binh đều hiểu những ảnh hưởng tâm lý mà tác phẩm của họ có thể gây ra, và họ luôn cùng nhau, đoàn kết với nhau giải quyết vấn đề nếu có bất cứ thành viên nào nổi giận hoặc buồn rầu. Là lãnh đạo của khóa học, trách nhiệm của tôi là đối phó với những tình huống này và cho đến nay tôi luôn làm được điều đó. Tôi học khá nhanh rằng trước tiên tôi phải kiểm soát được phản ứng của tôi trước những hình ảnh bạo lực trước khi tôi có thể khống chế được phản ứng của lớp học.
Tôi xin nói thêm rằng những lớp này không nhằm mục đích biến thành buổi trị liệu, và tôi luôn nhấn mạnh rằng mục đích của chúng tôi là viết và đưa ra thêm một công cụ phê bình mang tính xây dựng nữa. Trình độ viết của học viên rất khác nhau, nhưng không phải là xuất sắc. Hiếm khi họ hoàn thành được một câu chuyện hay một bài thơ, nhưng đó không phải là mục đích của chúng tôi.
Rất hiếm các cựu binh mà tôi làm việc với có bằng cấp cao hơn là bằng trung học. Tôi không tập trung vào ngữ pháp hay cú pháp, những chi tiết này không quan trọng. Mục đích của những lớp học này là giúp cựu binh thể hiện suy nghĩ và tình cảm của họ mà đối với phần lớn trong số họ, những điều này đã bị xáo trộn trong nhiều năm.
Tất cả bọn họ đều có ác mộng vào ban đêm. Một số người nói rằng họ sợ điều có thể xảy ra nếu họ "mở lòng" và nói ra những ký ức về chiến tranh. Một cựu binh nói với tôi rằng ông ấy không biết rằng việc kể câu chuyện của ông ấy có là đúng đắn không vì ông ấy sợ việc nói ra sẽ là cái gì đó đồi bại. Nhưng cũng có những cựu binh muốn nói về chiến tranh, những người tự hào về công việc và thấy vinh dự cũng như giá trị trong đó. Họ viết về lòng dũng cảm, về nhiệm vụ và hy sinh. Mỗi người trong nhóm có một câu chuyện và tầm nhìn độc nhất vô nhị.
Họ có thể có những khác biệt trong quan điểm. Một trong những nguyên tắc nền tảng của những khóa học này là sự tha thứ, rộng lượng. Mỗi người đều có thể bày tỏ quan điểm của mình và không có quan điểm của ai có giá trị hơn quan điểm của người khác. Họ có thể bất đồng nhưng không được giận dữ. Cho đến giờ tôi thấy mọi người đều hiểu điều này và thoải mái trước những quan điểm đối lập.
Một nguyên tắc khác nữa chính là tôn trọng sự riêng tư của người khác. Họ có thể nói về bất cứ điều gì trong lớp học. Có những đồng đội có thể chia sẻ những cái chung của mình. Trong lớp học họ nói với nhau những điều họ không nói trước công chúng. Vì vậy chúng tôi có nguyên tắc thứ hai là những thứ được nói và thảo luận trong hội thảo không được nói ra với người ngoài nếu không được cho phép.
Lớp học viết văn của cựu binh đã bước sang năm thứ 3. Tôi thích được hướng dẫn họ và tôi cảm giác rằng tôi cũng thu được lợi ích như các cựu binh khác. Tôi dự định sẽ tiếp tục những lớp học này và mở rộng thêm nữa bằng cách tuyển mộ những học viên từ tầng lớp cựu binh trẻ. Đáng buồn là, họ trở về từ chiến tranh với những vấn đề giống chúng tôi, và tôi chắc chắn rằng họ có thể thu được gì đó từ lớp học viết văn về những trải nghiệm của họ.
Mùa hè năm 2008, tôi tham gia một khóa học về xuất bản và biên tập văn học. Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng tôi sẽ tham gia vào lĩnh vực này, cho đến khi có một bài tập trong khoá học yêu cầu tôi phải xuất bản một tạp chí văn học. Sự dũng cảm của bài tập này đã kích thích tôi, và tôi nảy ra ý tưởng kết nối mối quan tâm của tôi về văn học với thế hệ những người lính trẻ tham chiến ở Iraq và Afghanistan.
Tôi chắc chăn là sự hướng dẫn của Kevin Bown và việc tôi tham gia vào trung William Joiner có ảnh hưởng rất lớn tới việc tôi thực thi việc này. Với sự khuyến khích từ người hướng dẫn tôi trong khóa học này, Askold Melnyczuk, tôi quyết định nghĩ đến một việc to lớn. Tôi đã đề nghị những nhà văn đã xuất bản các tác phẩm về chiến tranh cùng đóng góp với tôi.
Thách thức về việc xuất bản một ấn phẩm hoàn chỉnh vào cuối khóa học này đã ám ảnh tôi. Ý tưởng của tôi cũng nhận được hưởng ứng của một số giáo sư có ảnh hưởng. Họ ủng hộ những nỗ lực của tôi và đóng góp bằng tác phẩm của họ. Kevin Bowen giới thiệu tôi với một số nhà văn nổi tiếng và giúp tôi đăng lời kêu gọi viết bài cho tạp chí của mình từ trung tâm Joiner.
Tôi liên hệ với các nhà văn và nghệ sỹ khác. Tôi cũng kêu gọi sự giúp đỡ về mặt kỹ thuật từ những học viên khác, những người cũng là cựu binh chiến tranh. Chúng tôi đã cùng nhau làm ra được sản phẩm mẫu đầu tiên và ngay khi khóa học kết thúc, chúng tôi vẫn tiếp tục làm. Kevin Bowen đề nghị tài trợ cho chi phí in của một ấn phẩm lớn hơn.
Tên của một tạp chí mới, Hậu quả, xuất phát từ tên đầy đủ của trung tâm của Kevin, trung tâm William Joiner chuyên nghiên cứu về hậu quả xã hội và chiến tranh. Với sự giúp đỡ của những nghiên cứu viên và những biên tập viên, Tạp chí Hậu quả đã xuất bản được năm thứ hai. Tôi rất tự hào công việc mà nhóm chúng tôi đã làm, và tự bản thân chất lượng của tạp chí đã nói lên tất cả. Nó có một sứ mệnh quan trọng, để giải quyết văn hóa chiến tranh bằng việc xuất bản và đề cao công việc của các nhà văn, nghệ sĩ, những người rất quan tâm tới vấn đề này.
Trong thời gian học cao học, tôi trở nên gần gũi với thơ ca và những bản văn xuôi chiến tranh viết bằng tiếng Anh và tôi phát hiện ra những loại hình này cùng những hình thức nghệ thuật khác có hữu ích đến thế nào trong cách thức chúng tôi cảm nhận thế giới và đánh giá cuộc chiến có ý nghĩa thực sự thế nào. Để hiểu chiến tranh ảnh hưởng tới xã hội và cá nhân thế nào, văn học là cần thiết.
Những cách biểu hiệu một cách nghệ thuật có thể mang tới một tri thức đầy sắc thái về văn hóa và hậu quả của chiến tranh. Chúng tôi cần cái viễn cảnh rõ ràng này để có thể nhìn xuyên suốt sự lừa dối của những người có sức mạnh đã hưởng lợi từ chiến tranh, và có thể đưa ra những quyết định về việc chúng tôi sẽ lựa chọn ai làm nhà lãnh đạo của mình.
Ở nước Mỹ ngày nay, chúng tôi rất cần các phương tiện thông tin đại chúng làm những công việc điều tra các vấn đề một cách độc lập và công bố những phát hiện của họ ra công chúng. Tôi sợ rằng nền báo chí Mỹ đang đi lạc đường và cho đến khi họ lấy được được tính liêm chính mà họ từng có, chúng tôi cần những nguồn tin mới nếu như đất nước tôi muốn tránh được những cuộc chiến bất công và vô nghĩa.
Một trong những sai lầm lớn của báo chí ở đất nước chúng tôi là thu hẹp mối quan tâm của người Mỹ. Hầu như mọi người không để ý tới hậu quả tàn khốc của cuộc chiến đối với những người dân ở nước khác. Tôi tin rằng Tạp chí Hậu quả có thể cải thiện tình hình đáng buồn này, dù là rất nhỏ.
Tôi muốn mỗi số bảo đều thể hiện tiếng nói cần thiết nhưng không chỉ dành cho thế giới nói tiếng Anh. Trong số hiện tại, chúng tôi đã xuất bản một bài báo về một phụ nữ Iran, về một người mẹ đã mất 2 con trai trong chiến tranh. Bà ấy cố gắng cứu đứa con trai thứ 3 khỏi số phận tương tự.
Chúng tôi dự định xuất bản thêm các tác phẩm của những nhà văn nước ngoài. Chúng tôi muốn hoàn thiện bản dịch các câu chuyện của họ, các bản tiểu luận, các bài thơ, và giới thiệu quan điểm của họ với những độc giả có suy nghĩ ở Mỹ và những nơi khác.
Tôi hy vọng trong thời gian tôi ở Hà Nội, tôi có thể gặp những nhà văn Việt Nam và đề nghị họ gửi những tác phẩm của mình cho Tạp chí Hậu quả. Chúng tôi cần nghe tiếng nói của họ, và nhìn thế giới qua cặp mắt của họ. Vì tương lai của con em chúng ta, và một nền văn hóa của hòa bình và công bằng, chúng ta phải nỗ lực hết mình để hiểu nhau, để học hỏi từ quá khứ.
Tác giả: George Kovach - Nguồn TuanVN
- 17/07/2010 09:53 - 35 năm Văn Chương Việt ở hải ngoại - Kỳ 3
- 12/07/2010 00:00 - Vĩnh biệt người viết lời Việt cho hai ca khúc lừng danh Chiều Matxcova và Đôi Bờ
- 02/07/2010 00:00 - Cô đơn của Viết
- 24/06/2010 00:00 - Michael Jackson: Chết không phải là hết chuyện!
- 05/06/2010 00:00 - Nước Nga tiễn biệt nhà thơ của ‘Triệu bông hồng’
- 28/05/2010 00:00 - 'Hôn cái nào! Cô nàng xấu tính'
- 25/05/2010 00:00 - Tự truyện Mark Twain hé lộ sau 100 năm
- 24/05/2010 00:00 - Ngọn lửa nào thiêu cháy Bảo tàng Nhà văn Pautopxki ?
- 19/05/2010 00:00 - Kỳ lạ người viết truyện bằng... 200.000 cái nháy mắt
- 17/05/2010 00:00 - Amos Oz không dùng văn chương để làm chính trị
















